Thứ Sáu, 19 tháng 3, 2021

Tô Thùy Yên (1938-2019) - Nhà thơ Việt Nam


Nhà thơ Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, từ trần tại Houston (Hoa Kỳ) lúc 21g15 ngày 21-5-2019, thọ 81 tuổi. Vào tuổi ấy, và sau bao nhiêu gian truân, ông ra đi vẫn gây ra nhiều tiếc nuối trong giới độc giả trong và ngoài nước. Cái tang chung cho giới văn học đặt ra một câu hỏi khẩn thiết: tác phẩm Tô Thùy Yên đứng ở đâu trong dòng văn học Việt Nam hôm nay?

Tựa đề bài này khẳng định: Tô Thùy Yên là nhà thơ Việt Nam. Không phải là nhà thơ hải ngoại hay của Miền Nam cũ. Lý do đơn giản: ông là người Việt Nam, viết văn, làm thơ bằng tiếng Việt Nam. Huống hồ đời ông gắn bó với lịch sử đất nước trong mỗi chặng đường, thơ ông đầy ắp tình tự dân tộc, thắm thiết phong cảnh quê hương, ngôn ngữ Việt Nam phong phú, đa dạng, vừa uyên bác vừa sâu đậm lời ăn tiếng nói dân gian, tục ngữ, ca dao. Thơ ông đặc sắc, từ nội dung nhân đạo, tư tưởng cao sâu đến lời thơ tài hoa, hào sảng, giàu hình ảnh lạ trong tiết điệu thân quen. Nghệ thuật vi diệu của ông làm vinh dự cho tiếng Việt và văn hóa Việt. Tô Thùy Yên là nhà thơ Việt Nam bên cạnh Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tản Đà.

Tôi đã ngần ngại nhiều ngày trước khi đưa ra nhận định như trên, e rằng mình chủ quan, quá lời, cho đến khi đọc trên mạng ngày 28-5, bài của nhà thơ Thanh Thảo, không được đăng trên các báo giấy trong nước, có đoạn: “Tô Thùy Yên là một nhà thơ lớn (…) khi một nhà thơ Việt được công nhận bởi tài năng và nhân cách của mình, thì dù họ sống ở xa tổ quốc, thơ họ vẫn thuộc về đất nước, về dân tộc Việt Nam. Đó là thơ của một nhà thơ Việt thuần chất, trong đau khổ vãn giữ được phẩm chất người của mình, vẫn yêu thương mà không oán hận, dù số phận mình hết sức trớ trêu”. 

Thanh Thảo, sau 20 năm đọc thơ Tô Thùy Yên đã nắm bắt được hai yếu tố chính: chất dân tộc và chất người, làm nên nhân cách nhà thơ. Tôi đặt tên cho bài viết: Tô Thùy Yên nhà thơ Việt Nam, tưởng là đã chắc nịch, trong khi Thanh Thảo dùng chữ “nhà thơ Việt” ngắn gọn hơn, nhưng sắc bén, sâu xa hơn cái quốc hiệu tôi đưa ra. Thanh Thảo, cùng với Tô Thùy Yên là nhà thơ, họ sử dụng ngôn ngữ theo trực cảm, từ đáy vực tâm linh của lời nói. 

Lại nhớ đến Trần Đĩnh, tác giả Đèn Cù khi anh nhận xét “Tô Thùy Yên là nhà địa chất học dầu tiên nhặt lên những quặng chữ chưa ai từng phát hiện để dặt chúng bên nhau mà phát xạ” (Văn Việt 28-5-2019). Tôi thấy an tâm vì mình vinh danh thơ Tô Thùy Yên, nhất là vào giờ vĩnh biệt nhà thơ, không phải là chủ quan quá đáng.

Về tư tưởng và nghệ thuật Tô Thùy Yên, tôi đã từng sơ lược trình bày trong bài Ngựa phi đường xa, đăng trên báo Khởi Hành, California, số 20, tháng 12-1998. Từ bấy đến nay, non hai mươi năm, tình hình văn nghệ, báo chí đã không khá khẩm hơn, thậm chí còn u ám hơn. Văn thơ, đáng lẽ phải làm cho con người gần nhau, lại gây thêm tị hiềm, chia rẽ, thậm chí thù hận. Riêng Tô Thùy Yên thì có địa vị riêng, thơ ông đứng bên ngoài cõi ta bà đó và gây được sự đồng thuận giữa độc giả trong và ngoài nước, nhờ nội dung nhân ái và nghệ thuật vi diệu; và cũng nhờ kỹ thuật thông tin mạng hiện đại. Nhiều người truy cập được toàn bộ thơ văn Tô Thùy Yên, trong và ngoài nước, với ít nhiều thiện tâm, thiện chí, dù chính kiến, quá khứ có khác nhau, họ cũng thấy gần gũi qua những câu thơ:

Ta về như lá rơi về cội,
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây, xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này


Bài Ta Về làm 1985 khi tác giả vừa ra khỏi trại tù cải tạo, tuy có nhắc lại những lao khổ qua “mười năm chết dấp”; nhưng không thù hận. Ông xem những điêu linh, chiến tranh, lao lý, đổi đời như là hiện tượng tự nhiên, một cuộc biển dâu như người xưa vẫn quan niệm, mà Ôn Như Hầu hay Nguyễn Du đã từng nhắc lại đâu đó. Để bôi xóa quá khứ, để nuôi dưỡng sự sống, tác giả rót chén rượu giải oan, giống ai xưa đã lập đàn giải oan trên sông Tiền Đường, giải trừ oan nghiệt cho chúng sinh, cho một bếp lửa nhân quần ầm tối nay. Bếp lửa đầu tiên của loài người là của bộ lạc, rồi đến bết lửa gia đình, không có kích cỡ nhân quần như nơi Tô Thùy Yên. Vì tâm hồn ông như vậy. Tầm nhìn (sinh thời ông ưa dùng chữ vision) như vậy thấy được thế giới vui từ mỗi lẻ loi.

Thơ Tô Thùy Yên là chuyện Con Người, chuyên một thân phận lẻ loi trong một nhân quần hạnh phúc. Chất thơ tinh luyện trong trước tác Tô Thùy Yên là nhân phẩm con người, từ đó ông thẩm quyền dõng dạc: “thơ còn con người còn” trong một bài nói tại Seattle ngày 26-7-1997; ông giải thích thêm, phân biệt “văn nghệ giải trí, giải muộn khác với văn nghệ ở cấp độ cao nhất là văn nghệ giải oan, giải thoát”. Dù sao thơ cũng cần đến những ẩn dụ hào hoa, chứ kỳ thật để giải oan cho cuộc biển dâu này, Tô quân không cần rưới chút rượu hồng nào cả. Thơ ông là đủ để hóa giải.

Tấm lòng cao quý như vậy, trong một tác phẩm lớn lao như vậy, mà cho đến nay độc giả trong nước không mấy người biết đến vì nhà cầm quyền không cho phép in ấn, thậm chí không cho chép nhắc tới. Dù chỉ đăng tin buồn. Người cộng sản không ưa Tô Thùy Yên thì chuyện dễ hiểu, nhưng khắc nghiệt đến mực ấy thì quả là bất thường, gây thiệt thòi cho quần chúng độc giả; nhất là giới trẻ không tiếp cận được với một nguồn thơ giàu có của đất nước họ. Mà giới chống cộng trong hay ngoài nước, cũng chưa chắc gì đã ưa lối thơ này, mà nhiều người chê là “thiếu lửa”, ví dụ bài Ta Về nổi tiếng. Họ đòi hỏi ở một nạn nhân cộng sản tính chiến đấu cao hơn, và ngờ vực tác giả còn giữ nhiều liên hệ với giới văn nghệ quốc nội và đã đôi ba lần về thăm đất nước. Nghe nói tập thơ cuối cùng mới in gần đây tại Mỹ không bán, tác giả xuất bản để tặng bạn bè.

Cuối cùng, thơ Tô Thùy Yên không dễ đọc. Độc giả trích dẫn nhiều, nhưng chỉ trích những câu, những đoạn vừa ý. Nói rằng tác giả dùng nhiều lời ăn tiếng nói dân gian, nhiều tục ngữ ca dao, nhưng không phải là người đọc nào cũng nắm bắt. Ngay hai câu đầu của Ta Về được truyền tụng nhiều nhất:

Ta về – một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai.

Muốn hiểu cặn kẽ thì phải biết câu ca dao, có lẽ xuất phát từ quan họ:

Người về ta chẳng cho về
Ta níu áo lại ta đề câu thơ…


Thậm chí, cuối tập Thắp Tạ (2004) tác gỉa còn thêm phần phụ chú để giải thích …thơ mình.
Bài thơ làm 1999 có câu thật hay:

Em về giồng dưới qua bưng gió
Dạ bời bời nỗi sậy niềm mây

Câu thơ tự nó đã hay, không cần giải thích. Nhưng tác giả đã tiết lộ xuất xứ từ ca dao Nam bộ:

Em về giồng Dứa qua truông
Gió day bông sậy, bỏ buồn cho anh.

Tô Thùy Yên là nhà thơ uyên bác. Ông thông thạo thơ cổ điển Trung Quốc, có lần, trong trại học tập đã chép tặng bạn một bài thơ dài của Đỗ Phủ bằng chữ Hán. Ông đọc hầu hết thi ca Pháp hiện đại và đặc biệt thích Saint John Perse, một tác gia khó đọc. Ngoài ra ông tinh tường triết học Tây phương, Do đó, câu thơ ông trầm tích nhiều ý tưởng hay ẩn dụ phức tạp, dễ khiến người đọc lạc lõng.

Tô Thùy Yên lại là người cầu toàn, trau chuốt câu thơ “Tôi giựt giành đổ máu với tôi/từng chữ một”, do đó câu thơ có lúc hồn nhiên, có lúc cầu kỳ. Thơ cần cảm hứng, nhưng Tô Thùy Yên khổ luyện thi hứng của mình, thành những bài thơ dài; (nhờ ngẫu hứng mà làm được vài ba câu thơ hay thì không khó, nhiều người làm được). Thơ, cũng như nhiều bộ môn nghệ thuật khác, đòi hỏi những công trình dài hơi, khả năng lao động trí tuệ bền bỉ, rung cảm sâu lắng. Tô Thùy Yên muốn làm thi sĩ thực sự, chứ không chỉ là một tao nhân mặc khách, “ngứa cổ hát chơi”. Và cuối cùng, ông đã là một nhà thơ đích thực, ở tầm cỡ thế giới.

Ngày nay, thơ ông phổ biến nhiều nhờ qua mạng Internet, nhưng đọc thơ trên mạng thì có cái gì đó phù du.

Tóm lại có những lý do khách quan, khiến tác phẩm Tô Thùy Yên khó đến với quảng đại quần chúng. Mà nay còn có chuyện cấm đoán nữa, thì càng thêm khó khăn, tai hại.

* * *

Giá trị thơ Tô Thùy Yên, về mặt tư tưởng, tình cảm, nghệ thuật, tôi đã trình bày nhiều ở phần đầu, và viện dẫn chứng từ của nhà thơ Thanh Thảo, nhà văn Trần Đĩnh, những tác gia nghiêm túc mà tên tuổi đủ bảo đảm cho lời nói, cất lên từ trong nước. Quý ở chỗ đó.

Phần sau là đặt tác phẩm vào thời sự, với những nghịch cảnh đáng tiếc. Phong trào Thơ Mới 1932-1945 nở rộ nhanh chóng và ảnh hưởng lâu dài, là nhờ sách báo và nhà trường thời đó. Ngày nay xã hội Việt Nam không còn được hai ưu thế đó. Ngay việc bình luận, nghiên cứu cũng bị phân tán, ngăn chặn, xuyên tạc.

Nhân một đám tang, chúng tôi muốn nêu lên vấn nạn chung, cho tác phẩm Tô Thùy Yên, mà cũng cho trước tác nhiều tác gia khác.

Cho hay khi con người sống có ích thì chết cũng có ích.

Và chúng tôi tin vào lời Tô Thùy Yên, ngày ông còn cả tiếng cùng nhân loại:
Thơ còn con người còn.

ĐẶNG TIẾN

P.S: Bài tưởng niệm thi sĩ Tô Thùy Yên nhà phê bình Đặng Tiến viết năm 2019, khi Tô Thùy Yên qua đời, nhưng nay mình mới đọc được, lưu lại ở đây.
"Kết" ý này của thi sĩ Tô Thuỳ Yên mà nhà phê bình Đặng Tiến dẫn lại:"văn nghệ ở cấp độ cao nhất là văn nghệ giải oan, giải thoát”

* 
Bài về thơ Tô Thùy Yên - "kho báu của thơ Việt" của nhà thơ Ý Nhi: https://www.dutule.com/a9247/y-nhi-to-thuy-yen-thuc-cho-xong-bai-tho:

"Các nhà phê bình văn học danh tiếng như Đặng Tiến, Thụy Khuê, Nguyễn Hưng Quốc, Bùi Vĩnh Phúc... đều đã thử bút với thơ Tô Thùy Yên. Và, dường như chưa ai trong số họ cho rằng họ đã nói lời sau cùng về ông. Chắc chắn, những nhà phê bình tiếp sau họ, những độc giả của tương lai, sẽ đọc Tô Thùy Yên với một định chuẩn thẩm mỹ mới, bởi Thơ Tô Thùy Yên là kho báu của thơ Việt, bởi Tô Thùy Yên là “một trong những tiếng thơ lớn, của 20 năm văn chương miền Nam” (Du Tử Lê).
Chính xác hơn, Tô Thùy Yên là nhà thơ lớn của nền thơ Việt Nam hiện đại".

Đợi những rộn ràng



Chúng tôi đến thăm nhà văn Võ Hồng vào một buổi chiều tắt nắng, biển Nha Trang xanh một màu xanh da diết. Căn nhà nhỏ nép mình im vắng ở góc phố đường Hồng Bàng. Không có ổ khóa nào ở cổng ngoài, chỉ cần đẩy nhẹ then cửa là đã chạm bước vào một không gian đầy kỷ niệm.

Trên căn gác nhỏ, Võ Hồng đang ngồi yên ở một góc giường, một mình một bóng như mấy chục năm dài vẫn vậy. Ông mặc một chiếc áo sơ mi dài tay, cổ áo gài cao, bên ngoài khoác một chiếc áo len mỏng và đầu đội mũ len che kín hai tai. Vì sức khỏe yếu, cửa phòng ông phải khép lại để tránh gió chiều, khép lại cả những biểu hiện sự sống sinh động ở bên ngoài. Căn phòng nhỏ còn lại ông, chiếc giường, kệ sách và… nỗi cô đơn có thể nhìn thấy rõ. Bụi phủ lớp mỏng lên những bức ảnh, những đồ vật trong phòng, quyện vào những trang sách cũ làm căn phòng bỗng mang một chút hương xưa êm đềm của dĩ vãng.

Câu chuyện với Võ Hồng thấp thoáng một nỗi niềm đeo đẳng: "Cô không tưởng tượng được về một đời sống vắng lặng đâu. Không thể nào thốt lên những câu như "Lấy dùm tôi cái ly", "lấy dùm tôi cây viết", không có ai bên cạnh cả, không có ai để mình có thể nói những câu như vậy".

Chúng tôi nghe lòng rưng rưng khi ông nói về sự lẻ loi như định mệnh ấy của mình.

…

Trong nỗi cô độc mỗi ngày, tưởng như người bạn duy nhất có mặt bên ông vẫn chỉ là tấm ảnh của Diệu Báu - người vợ yêu đã sớm lìa xa ông và ba người con còn ở tuổi ấu thơ. Có lẽ bà là hoài niệm long lanh nhất, dấu yêu nhất ông không thể nào không nhắc đến trong những cuộc trò chuyện với bao người ghé đến căn gác nhỏ phố Hồng Bàng.

Nhưng vượt qua những "đau yếu giữa hành trình", Võ Hồng vẫn thở cùng thơ, văn mỗi ngày. Những vần thơ lãng mạn, nhu mì lẫn khỏe khoắn, hóm hỉnh: Chiều ngồi tựa cửa / Nhìn áng mây xa/ Về đâu lát nữa/ Hỡi mây không nhà? Võ Hồng ngâm nga bài thơ mới làm. Và trên một chiếc bảng đen ở một góc nhà "vương vãi" những câu thơ viết bằng phấn trắng: “Hối lộ, lộ rồi không kịp hối. Tham ô, ô gãy hết đường tham”.

Một ngòi bút thẳng cả đời văn. Giữ ngòi bút không bao giờ biết “nịnh”, không bao giờ luồn cúi. Và điều Võ Hồng tâm niệm cả đời vẫn là thái độ sống "luôn luôn nghĩ tốt, làm tốt và không bao giờ nói xấu người". Một tâm niệm đầy nhân hậu. Không chỉ nói, Võ Hồng đã làm được rất nhiều điều theo tâm niệm ấy. Ông từng "vét" cả triệu bạc có được để giúp người, từng chăm lo từng cái bánh, miếng cơm cho những người đói kém mà ông gặp...

Giờ đây, nghĩ đến một ước mơ cho riêng mình, ông chỉ mong ước các tác phẩm của mình được chọn in lại. Võ Hồng đặc biệt tha thiết muốn quyển sách mỏng gồm "Một bông hồng cho cha", "Nghĩ về mẹ" và "Nửa chữ cũng thầy" được in thường xuyên để bạn đọc nhỏ tuổi có cơ hội được đọc, tưới tẩm những hạt giống yêu thương trong tâm hồn các em. Tình yêu thương gia đình trong tác phẩm Võ Hồng là một trong những "con thuyền " "tải đạo" vững chãi đủ để truyền trao và nuôi dưỡng nhân cách người đọc.

Khi nghe chúng tôi nhắc đến những câu nói thâm thúy và hóm hỉnh trong quyển Trầm Tư, Võ Hồng giở ngay trang cuối và cất giọng đọc: "Này ông Socrate! Ông bị vợ chê ghét trong khi quần chúng ái mộ ông. Đừng ngạc nhiên, những người tiếp xúc với ông, được nghe ông thuyết giảng về cái Hay cái đẹp của triết lý…mỗi người được nghe một lần, trong khi vợ ông ở gần thì cứ phải nghe lặp lại hoài. Chỉ một việc đó cũng đủ để bà nổi xung đổ ghét". Câu "trầm tư" này phải nghe qua giọng đọc nhấn nhá đầy khoái cảm của tác giả mới thấm hết ý vị của nó.

Võ Hồng tỏ ý thích câu này vì nói lên được sự tinh nghịch của ông. Sự tinh nghịch đã khiến ông trang trí mảnh vườn nhỏ nơi sân gác bằng hàng loạt các bloc lịch màu đỏ. Tinh nghịch cũng là cách xoa dịu nỗi buồn. Bởi như ông bảo, "nếu có tình yêu thì đâu cần tinh nghịch nữa". Nhưng còn tình yêu thầm lặng của bao bạn đọc? Võ Hồng nhè nhẹ lắc đầu: "Không, tình yêu thì phải ở ngay bên cạnh, phải rộn ràng".

Một người cũng thấu cảm nỗi cô đơn khác là Trịnh Công Sơn có lẽ sẽ "đồng cảm" với Võ Hồng hơn hết khi Trịnh Công Sơn viết: "Em líu lo bên đời dạy tôi biết xa gần"… Từ lâu rồi, "xa gần" với Võ Hồng là tiếng líu lo của những chú sẻ nâu ghé vào vườn nhà mỗi sớm, ăn những hạt cơm ông để dành sẵn. Vàng anh vẫn nở rực một góc vườn. Hương hoa mận bên rào hàng xóm vẫn tràn vào gác nhỏ. Bấy nhiêu thôi đủ để nỗi cô đơn lướt qua nỗi cô đơn và tình yêu cuộc sống nơi ông không bao giờ cạn, để ông vẫn yêu thật thà từng "nhánh rong phiêu bạt" nhìn thấy trong đời …

Chúng tôi đã ngồi với nhau trong tình ông - cháu, tình thầy trò, tình cảm giữa nhà văn và độc giả trong một buổi chiều đằm thắm như thế, đằm thắm đến nỗi không nỡ trông thấy một cánh hoa rơi, một nét ưu tư trên gương mặt bất kỳ ai…Chia tay, như chia tay một sự rộn ràng bất ngờ ập đến, Võ Hồng bỗng thốt lên hai tiếng "buồn quá" làm chúng tôi lặng lòng….

Hình ảnh cuối cùng về cái chắp tay xá chào của Võ Hồng theo tôi suốt một chuyến tàu về lại Sài Gòn. Hình ảnh của một con người khiêm cung và tự trọng hết mực. Hình ảnh của một nhân cách khó phai mờ trong văn giới VN.

--------

P.S: Trích bài viết đã in trên tạp chí Văn Hoá Phật giáo năm 2006.
Nhà văn Võ Hồng được Hội nhà văn VN truy tặng giải Cống hiến năm 2017, nhưng cho đến nay, ước mơ nhỏ của ông về những quyển sách mỏng kia được in lại vẫn chưa thành. Tụi mình/ Quỹ Nguyễn Hiến Lê rất muốn làm điều này cũng như in lại cuốn Chúng tôi có mặt của Võ Hồng, nhưng hiện vẫn chưa liên lạc được với người nhà của ông. Tạ ơn nếu được bạn hữu kết nối.

Thứ Ba, 16 tháng 3, 2021

Sao không hạnh phúc với cuộc đời đi...



Cho đến giờ, chưa có bộ phim Việt Nam nào thôi thúc mình phải đến rạp lần hai như Song Lang. Mình biết ít nhất 10 khán giả xem phim này hai lần. Đây có lẽ là một trong những phim Việt Nam hiếm hoi khiến nhiều người - nhất là khán giả thế hệ 7x, 8x - muốn xem lại nhất.

1.
Mình đã đọc hơn 20 bài điểm phim, trong đó có nhiều bài rất hay, khiến mình nghĩ viết gì thêm nữa cũng thừa thãi. Nhưng nếu không nhắc đến Song Lang với bạn bè, với những ai còn chưa ra rạp xem Song Lang, mình áy náy như mắc nợ một tác phẩm nghệ thuật đáng được trân trọng - về những trải nghiệm đẹp và giàu cảm xúc mà bộ phim mang lại cho khán giả, về niềm tin mà Song Lang nhen lên về những tác phẩm “made in VN” thật sự tinh tế, cứu chuộc cho những thành kiến mà nhiều khán giả đã dành cho điện ảnh Việt.

2.
Mình sẽ còn nhớ lâu Dũng thiên lôi và Linh Phụng. Yêu sự hóa thân vừa vặn của Liên Bỉnh Phát, Isaac. Yêu cái đẹp của sự cô độc và sự chữa lành. Yêu cái tình tri ngộ giữa đôi bạn ấy. Một cách rất tự nhiên, song hành cùng cuộc đời và cuộc gặp giữa hai con người, bộ phim gói ghém nhiều ẩn ngữ đẹp, về nguồn sáng của nghệ thuật nói chung và cải lương nói riêng, về những dấu ấn tuổi thơ cấy rễ thế nào vào hồn người, về sợi dây liên đới giữa thiên lương và nghệ thuật, về Phật tính vẫn có sẵn trong mỗi con người - dù đang lạc lối,…

3.
Lâu lắm rồi mới có một bộ phim mà nhiều khung hình làm mình tương tư đến vậy. Nhớ cái bờ tường Linh Phụng tựa nỗi xao xuyến vào, cái cầu thang âm u mỗi ngày một sớm mai bỗng lung linh nắng sớm. Nhớ cái khung cửa nơi chàng giang hồ hay đốt thuốc trầm tư một ngày được lấp đầy khoảng trống. Cái khung cửa đẹp của riêng 2 tâm hồn cô đơn. (Mình đọc đâu đó nói bộ phim mất 27 set quay cho cảnh ở khung cửa này. Sự kỹ lưỡng đó thật là đáng giá).

Và nhớ Sài Gòn về đêm những năm 80, xao động và tĩnh lặng (mình kịp biết qua khi còn là một đứa trẻ quê lên thăm phố). Nhớ những khung hình đưa ta du hành về thế giới tuổi thơ với những trò chơi mộc mạc mà dấu yêu quá đỗi…Nhớ cái góc máy, màu phim như muốn dồn ta vào cùng tâm trạng của Dũng thiên lôi khi chàng ta khóc nấc. Nhớ dáng nằm sấp bình an. Nhớ ánh mắt vừa chợt trong veo đã phải khép lại. Nhớ cái cơn mưa đến rồi đi, đột ngột, bất ngờ, như sự đến - đi của một phận người.

4.
Cuộc đời khốc liệt đan trong sự giản dị, bụi bặm bạo tàn đan trong thơ mộng thuần khiết, lý tính đan trong cảm tính, ngổn ngang hôm nay đan trong vô định ngày mai, với những nợ nần khó quên, những tình cờ nhớ mãi…

Có nhau và mất nhau, có thể là ngày hôm nay và ngay ngày mai đó thôi, theo đúng nghĩa đen. Ta chỉ có thể nhớ về thời gian, nơi chốn lần đầu gặp nhau, nào có thể nói với nhau đâu là lần cuối? Mà nhớ quên gì, thời gian (có khi của một cơn mưa thôi) có thể xóa nhòa tất cả…Dài mà ngắn, và vô thường thế đó.

Vậy thì, sao không hạnh phúc với cuộc đời đi, và yêu thương hơn, kiên nhẫn hơn với con người…

--------------

P.S 1.: Một nhà sách online cho biết nhiều bạn đặt mua quyển Con voi xa đàn sau khi xem phim. Còn mình, vô tình Song lang gợi nhớ đến Nhà khổ hạnh và gã lang thang (Đôi bạn chân tình) của Hermann Hesse. Trong đó, có những câu thế này:

"Không có mẹ người ta không sống được, không có mẹ người ta không chết được".

"Nghệ thuật thắng được kiếp người phù du; tôi nhận thấy rằng trò hề đời sống múa may như ma quỷ còn để lại cái gì đó tồn tại, đó là nghệ thuật. Rồi cũng có ngày nghệ thuật chết đi, tan biến, đảo lộn tan tành. Nhưng dẫu sao nghệ thuật vẫn lâu bền hơn đời sống con người, nó tạo ra ở trên khoảnh khắc trôi qua biền biệt một thế giới bình thản những hình ảnh và những sự kiện thiêng liêng. Đối với tôi, làm nghệ thuật có cái gì vỗ về an ủi gần như đem lại tính chất vĩnh cửu cho sự vật phù du".

Bước chân người lính


Anh nghe nghìn giọt mồ hôi chạy trên lưng
trên mắt trên môi
trên cả cuộc đời
nhỏ xuống rừng xanh
cho em Đông phương ngồi mộng
cho chiều Việt Nam tấp nập sắc màu
cho phương trời mở rộng
Quê hương
gập ghềnh đất mẹ đau thương
bước chân anh qua trùng trùng điệp điệp lá cây rừng
xuyên thung lũng qua ghềnh qua suối
Ôi thương quá quê hương buồn tủi|
mắt ngập ngừng mẹ khóc buổi ra đi
rừng núi Trà Mi
hai trăm bốn mươi giờ nghe lòng rưng rức.
Anh yêu em như yêu câu hò đất Bắc
yêu dòng Hương bởi tóc em buồn
áo trắng đan mau trên bãi sân trường
Anh thương quá quê hương mù khói súng
ôi xơ xác xóm làng Định Quán
nghèo Túc Trưng thơ trẻ cũng hãi hùng
mắt ngây ngô cô gái thẹn thùng
nhìn đoàn lính đi về qua Phước Lý
những em bé xinh xinh chiều Cát Lái
mời bánh ta, vui vẻ chuyện quân dân
và Tân Uyên rừng heo hút gió ngàn
đêm thao thức nhìn sao trời hoang vắng
anh đã băng dòng La Ngà trong nắng
nghe hồn rưng rưng thương đất thương người.
Em ơi!
mồ hôi anh đổ xuống
cho ruộng vườn cho ước mộng
cho mai sau trẻ con nhìn nhau thắm thiết
cho tình đầu không còn cách biệt
cho người người đi đến gần nhau
cho Việt Nam sông núi một màu
thương yêu ngập cả bầu trời bát ngát
Vì yêu em yêu đất yêu người nên hồn anh man mác
…quê hương!
mồ hôi anh đổ xuống ruộng vườn
ươm hy vọng thanh bình lên xứ sở

Nam Chương

(Thơ papa viết năm 1972, mình chép lại một ít vì papa không còn nhớ trọn bài)

Thứ Bảy, 13 tháng 3, 2021

Những mảnh vườn ở bên


Sáng nay nhà có vị khách lạ. Một em bướm trắng bé xíu xiu về bay trên khóm hoa hoàng anh mẹ trồng. Ở chơi rất lâu. Mình cũng vui rất lâu, cả ngày dài nhớ về em khách xinh xinh, chập chờn trong ký ức những khoảnh vườn xưa rợp bướm.

Và nhớ sang những mảnh vườn ghé lại trong chuyến đi Trà Ôn hè rồi. Nhớ cái giàn tre dễ thuơng đựng hàng chục chậu hoa bé dại do một người cha thợ hồ “gầy” nên. Nhớ dáng một cành dâm bụt soi bóng bên lu nước còn vương hoa xoài. Nhớ hàng cúc dại rủ về cả đàn bướm trắng, trên lối vào “bến náu” của M…

Và nhớ nhất là những cành hồng ở sân nhà cậu bé T. Đẹp một cách mộc mạc và hoà hợp với không gian khu vườn một cách kỳ lạ, khiến buổi chiều thắm dịu hẳn và mình chỉ muốn nấn ná quanh vườn. Nghe em bảo “chú Tư con trồng”, mình chỉ muốn gặp ngay “chú Tư” để “ngó” đôi bàn tay của chú :)

Ở những mái nhà hầu hết cha mẹ các em đều tha phương kiếm sống mà chúng mình ghé qua (hình như người Trà Ôn rủ nhau đi Nha Trang?), các em nhỏ lớn lên trong sự chăm sóc của ông bà và sự bao bọc của những mảnh vườn như thế. Những mảnh vườn “ở bên” các em, đôi khi bé xíu thôi, cứ khiến mình yên tâm, như là các em vẫn đang được nuôi dưỡng bằng những hơi ấm khác từ thiên nhiên, để giữ cho tâm hồn xanh mát…

Chẳng phải sao, một tiếng chim buổi sáng, một cánh bướm buổi chiều, một đoá hồng buổi đêm…cất lên bao nhiêu lời yêu thương đời sống, chỉ cần em chầm chậm gần, nghe…

2018.

Thứ Sáu, 12 tháng 3, 2021

Thơ Đỗ Nghê



Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông

(Bông hồng cho mẹ, Đỗ Hồng Ngọc, 2012)

Bài thơ này mình biết đến lần đầu khi phỏng vấn tác giả - bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trong quán café Chiêu ở Quận 3, Sài Gòn. Chú và mình trò chuyện quanh quyển Thấp thoáng lời kinh, loanh quanh thế nào mà nói sang thơ ca, mình không còn nhớ rõ. Chú đọc cho mình nghe 4 câu đó, mình ấn tượng ngay. Những câu thơ nằm ngoài chủ đề câu chuyện nhưng mình vẫn tìm cách đưa vào bài viết. Trí nhớ mình đúng là thiên vị thơ, nhớ mãi 4 câu thơ từ hôm đó...

Với mình, ẩn sau "Bông hồng cho mẹ" là một ngày lễ dễ thương của văn hóa Phật giáo, văn hóa Việt: Lễ Vu Lan. Ẩn sau bài thơ giản dị đó là cả cái nhìn của phương Đông về hai cõi âm - dương. Mà thật ra, chẳng âm dương cách biệt gì cả, “ngoại”, “mẹ” và “con” đều ở đây, trong bài thơ nhỏ này, trong tâm tưởng của “con” - “con” nay đã nhìn về Còn - Mất trong cõi ta bà một cách nhẹ nhàng, an nhiên, dù đã bao mùa Vu Lan “con” cài hoa trắng, đóa hồng kia "con" “nhường” cho mẹ, mẹ ơi…

20 chữ thôi, mà khiến người đọc thấy cả ba “nhân vật” đều gần gũi, thấy yêu văn hóa Việt, yêu cuộc sống quá nhiều yêu thương và quá đỗi vô thường này…

Bẵng qua 5, 6 mùa Vu Lan, mình gặp lại bài thơ, lần này được in trong tập sách Thơ ngắn Đỗ Nghê (Đỗ Nghê là một bút danh khác của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc), không khỏi thấy vui, không khỏi muốn nghe chính lời tác giả vang lên, như buổi chiều năm nao…

Mình mang tập thơ về, để ở đầu giường, một hôm thức dậy, trí não còn ngái ngủ, quơ tay lên mở sách, đọc đúng một bài rồi gấp sách lại vì nước mắt chảy:

Ba dạy con
Mỗi ngày
Một chút

Không bài học nào
Như ba đã học
Từ con

Nỗi mất!

(La Ngà 5, 1990)

Mình may mắn chưa có trải nghiệm đau đớn như vậy về nỗi mất, vậy mà 19 chữ kia cứ như một vết cắt bất thần vào con tim nhỏ…Lại một câu chuyện của sống chết vô thường, của có - không - còn - mất, của cõi đời mong manh cõi lòng mong manh...

Đâu cần dông dài, đâu cần khoác áo gấm áo lụa cho ngôn từ, đâu cần chiều kích suy tưởng, thơ, đôi khi chỉ cần là tiếng nói chân thật giản dị của khoảnh - khắc - trái - tim - cất - lời - như - không - khác - đi - được, vậy mà cứa đau, vậy mà xoa dịu…Mối tương giao và tri âm giữa người thơ với người đọc, đôi khi cũng lạ lùng như thơ vậy.

Nãy giờ mình nhắc hai lần chữ “vô thường”, với cả tập thơ, đúng là lẽ vô thường, “bài học” có - không bàng bạc khắp trong cái nhìn về đất, nước, sóng, hơi thở, tình yêu, tuổi già, về buổi ngày, buổi đêm, về sợi tóc bạc, về tấm thân tứ đại này….

Tình thương ư? Có một nỗi nhớ rất “y học” thế này:

Thôi hết cồn cào
Thôi không quặn thắt

Chỉ còn âm ỉ
Chỉ còn triền miên

Thì thôi cấp tính
Thì đành kinh niên

(Nỗi nhớ, 1995)

Vô thường ư? Cái thấy của y học đi cùng với cái thấy của thiền học:

Ta bay vù vù trong không gian
Mà cứ tưởng nằm im
Trên gối

Mỗi ngày ta rơi rụng
Mỗi ngày ta phục sinh
Mà cứ tưởng không hề thay đổi…

(Vô thường)

Có một bài mang tên Về Thiền tập tác giả để cuối tập thơ, mình không chép lại ở đây, thay vì vậy, mình chép "bài thơ 2 chữ" tác giả nhắn cho mình, sau khi nhìn thấy cái tựa “giựt gân” không đúng tinh thần bài điểm sách trên 1 tờ báo mạng: "Thôi kệ!"

("Thôi kệ!", hai chữ đó, với con là “thơ ngắn Đỗ Nghê, là "thơ Trịnh Công Sơn", là "thơ thiền' đó chú Ngọc ơi! :) )

Trong lời đề tựa cho tập Kinh thi từ ngàn năm trước (mà Đỗ Hồng Ngọc có dẫn lại), Chu Hy viết rằng thơ là giọng điệu cung bực “như không thôi đi được” của “những cái ý nhị không thể nói hết ra được mà hình hiện ở trong lúc ngậm ngùi ngợi than”.

Nghĩ về thơ như thế, cảm thơ ai, cảm thế nào ắt phải tùy tạng người, tùy khoảnh khắc, tùy không gian, tâm thế…, thật không dễ luận bàn, có phải? Như dễ gì lại có một sớm mai, 1 bài thơ nhỏ đánh thức một đứa người lớn đang ham ngủ vùi.

Ảnh: Một trong những minh họa của chính tác giả trong tập sách. Mình thích bức này, vì rất “Bình Thuận thân thương”

Gọi xa xôi



"Thường thì đọc thơ có hiểu không, chị gửi tặng?" .

Tư hỏi. Tư vẫn hay làm mình bật cười với những trao đổi kiểu vậy. Thích sự nam tính trong những trò chuyện kiệm lời của Tư. Thích sự thông minh lém lỉnh tỉnh táo của Tư. Tỉnh táo, nên Tư có sự tự tại, độc lập - điều mình rất quý ở chị, bên ngoài trang viết.

Ở tập thơ Gọi xa xôi này của Tư sau Chấm, có 2 câu này sáng nay làm mình dừng lại...hình dung:

Nghĩ một bông hoa xanh nở ba năm vừa rụng
mình sẽ chịu tang bao lâu?
(Hình dung)

Tập thơ mỏng tang mà "chế" bắt mình lặn mấy khúc "sông sâu" vào những tâm cảm, tầng nghĩa dường như muốn giấu đi. 

Mà, đâu cần hiểu hết đâu, một khi ngôn ngữ thi ca (khá tiết chế, chắt lọc của Tư) đã giăng vào cuộc lặn của ta một đôi miền khói đẹp. Nước nghĩa của Thơ qua con mắt của kẻ thứ hai thường ít nhiều trầy xước, nhưng khói chữ thì vẫn bay...

Chép lại ở đây hai bài "có hiểu" :).

Chị gái

Cho chị một con đường,
anh đến và đường mang anh đi biệt
cho chị đám mây đỡ nắng
mây nông nổi làm mưa

cho chị một ngôi nhà
ngôi nhà nhốt chị giữa trăm lần vách
cho chị một căn bếp
khói vô tâm lấp mất người

cho chị chiếc giường
chới với chạm bờ chiếu trống
cho chị chiếc khăn
ướt đầm không thấm hết muối xương

cho chị giấc mơ núi xanh sông bạc
mơ phấp phỏng một người lẩn khuất
cho chị một thênh thang
ừ, thênh thang nhiều mấy cũng vừa

Về

Đến cổng vừa hay sen nở
cánh sen đỡ lấy ngọn gió
chìa khóa rơi khỏi tay
cánh cổng lèo nhèo ngái ngủ

Về úp mặt vào nước
gội sạch ảo ảnh người
úp mặt vào gối
nghe vị mặn nào không phải mồ hôi

Về úp mặt vào khói
mượn xót cay giấu cay xót đường xa
ngọn củi thắp lên
khói có là bao mà nước mắt

Về úp mặt vào rốn con
trẻ cười ngắt nghẽo
trên dấu vết chia lìa
ngọn gió sinh mệnh cả hai dào dạt cùng nhau

Nguyễn Ngọc Tư

P.S: Đặc biệt thích tranh của tập này, hợp với thơ Tư

2018.