Thứ Hai, 22 tháng 3, 2021

Victor Hugo - Một linh hồn bất diệt


Những ai từng yêu mến đại văn hào Victor Hugo đều có thể giật mình: đã lãnh hội được gì tài năng qúy báu của ông trước khi đến với thiên tiểu sử Victor Hugo - bí ẩn cuộc đời (dịch giả Huỳnh Phan Anh, NXB Văn nghệ, 2002)?

Bậc thầy trong loại hình tiểu sử André Maurois, với tính uyên bác của tư tưởng và cách diễn đạt sáng sủa của một ngòi bút sâu sắc, duyên dáng đã thâu tóm được cuộc đời của thi hào vĩ đại nhất nước Pháp, đưa người đọc đi suốt gần 800 trang sách chỉ để ngắm nhìn thật kỹ chân dung của vị thần đã chọn cho mình đỉnh ngồi cao nhất - Olympio - Victor Hugo.

“Khi tôi sinh ra, thế kỷ này chỉ mới hai tuổi”. Nhà thơ sinh năm 1802 có tự phụ lắm không, khi trong lịch sử văn học Pháp, để chọn ra một người có thể đại diện cho cả một thế kỷ chỉ có thể là chính Victor Hugo.

Từ khi là cậu bé 14 tuổi, thần đồng Hugo đã tuyên bố: “Tôi muốn mình là Chateaubriard hoặc không là gì cả”. 15 tuổi, cậu đã có được mấy ngàn câu thơ, một vở hài kịch, một vở kịch năm hồi, một thiên anh hùng ca. 18 tuổi đã cho ra một tuần báo văn nghệ, 16 tháng đăng 112 bài viết, 22 bài thơ, viết về đủ đề tài văn học. 

Người ta kinh ngạc trước trí thông minh và tài năng vượt lên trên thời đại của chàng. Và nguồn thơ dạt dào, phong phú của Hugo - từ Lá thu đến Ánh sáng và bóng tối, Trầm tư sau này - đã mang đến cho thi ca Pháp “những tập thơ lộng lẫy nhất”, “tất cả những ai yêu thi ca đều bắt gặp trong đó một vài trong số những câu thơ đẹp nhất của ngôn ngữ Pháp”. 

Mới 23 tuổi, Hugo đã được triều đình Pháp trao Bắc đẩu bội tinh cùng với Lamartine. Năm 24 tuổi, bắt đầu viết kịch, trở thành lãnh tụ phái lãng mạn và Hernani - vở kịch đầu tiên của Hugo được công diễn đã gây ra sự náo loạn giữa khán giả hai phe cổ điển và lãng mạn; vở kịch đi vào lịch sử với tên gọi “Trận Hernani”. 

Sự thán phục không dừng lại. Không chỉ thơ, kịch mà những tiểu thuyết lần lượt ra đời đều gây tiếng vang; ở thể tài nào, Hugo cũng chứng tỏ được tài năng vượt bậc của mình. Bạn đọc yêu văn học khó mà bỏ qua Nhà thờ Đức Bà ở Paris, Người cười, Những người khốn khổ - “một trong những tác phẩm vĩ đại của trí tuệ con người”… Ông cố đạo Myriel, người tù vượt ngục Jean Valjan của Hugo đã sống mãi trên toàn thế giới để nói lên “cái toàn thể của sự cao cả, sự công bằng và lòng thương xót”…

Điều đáng trọng là vinh quang có kéo Hugo lên đến tận đỉnh Olympia, từ Hàn lâm viện đến Nguyên lão nghị viện, ông bao giờ cũng “nghiêng xuống người nghèo và người cần lao”. 

Những công việc ông trù định như bãi bỏ án tử hình, những hình phạt khổ nhục, tăng quyền lợi cho phụ nữ …cũng luôn là niềm mong mỏi chung của tất cả những ai muốn giảm bớt những đau thương, gánh nặng của kiếp người. 

Hugo còn làm ta kính phục bởi tiếng thét: “Chọn mạng lệnh hơn lương tâm? Không!”. Cả quãng đời hoạt động chính trị của “nhà thơ có những khúc hát dành cho tất cả những vinh quang và tất cả những tang tóc của tổ quốc” đã cho thấy ông “không đòi hỏi gì hơn là việc tin vào sự trung thực”. 

Trung thực và dũng cảm, Hugo chống đối đế chế, đả đảo Napoléon III, ủng hộ chế độ cộng hòa, tự trao cho mình bổn phận cứu danh dự của dân tộc Pháp bằng 20 năm lưu đày. Thành quả của lưu đày là những tập thơ Trừng phạt, Truyền thuyết thế kỷ, tiểu thuyết Những người làm việc ở biển…với “tầm cao rộng của những quan điểm lịch sử, nét rắn rỏi của bút pháp và sự táo bạo của những giải pháp”.. Về già, cuốn Nghệ thuật làm ông mà người ta bảo nhờ đó em bé đi vào thi ca lại làm người đọc thêm yêu Hugo của những xúc cảm giản dị, dịu dàng…

Cuối tác phẩm, Maurois dành những lời trang trọng nhất để miêu tả đám tang tiễn đưa Hugo vào điện Panthéon - nơi chôn cất những danh nhân của nước Pháp. Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, một quốc gia trao cho nhà thơ những vinh dự mà tập quán cho tới bấy giờ vẫn chỉ dành cho vua chúa và tướng lãnh. 

Cả Paris thức canh quan tài, những dòng người cuồn cuộn mênh mông như lũ đi theo ông, vô số những tấm khiên ghi tên những tác phẩm của ông, những câu thơ rì rào khắp mọi nơi…Bởi, hơn ai hết, ông đã ca ngợi những gì mà mọi người đã cảm nhận:… những niềm vui của một người cha trẻ, những vẻ đẹp của tuổi thơ, những cơn ngây ngất đầu tiên của tình yêu, bổn phận của mọi người đối với kẻ nghèo khổ, sự cao quý của lòng khoan dung…

Người đòi hỏi sự đức độ có thể chê trách Hugo trong cuộc sống riêng tư ở tính đa dục, tự phụ nhưng cũng sẽ phải chấp nhận lời biện hộ của chính ông “thiên tài thì luôn thái qua. Đó là do cái lượng vô hạn nơi họ”. 

Trong thiên tiểu sử này, người đọc vẫn chỉ có thể tìm thấy nhiều hơn hết những ái ngữ đẹp nhất dành cho một con người: một tinh thần thẳng thắn, một trái tim thuần khiết, một tâm hồn cao qúy, sức mạnh của tư tưởng, sự rắn rỏi của phong cách, bề rộng của tri thức, sự thanh lịch của trí tuệ, sự duyên dáng của thể xác… 

Sự tận tụy không mệt mỏi cho việc hoàn thiện chính mình trong nghệ thuật và sự đấu tranh không ngừng cho công bằng và tự do của Victor Hugo khiến người đọc chỉ biết bái phục. Sự xuất hiện của một cuộc đời như thế quả là niềm vinh dự cho nhân loại. 

Cả Victor Hugo, cả Andre Maurois đều đã được học giả Nguyễn Hiến Lê đưa vào trong quyển Các cuộc đời ngoại hạng. Ngoại hạng, theo ông, “vì lẽ những vị đó đã suốt đời xây dựng một “kim tự tháp” cho mình mà cũng là cho nhân loại… vị nào cũng lưu lại cho hậu thế trên trăm cuốn…và tới nay đã có năm sáu thế hệ nhờ họ mà hưởng được những phút vui lành mạnh nhất, thần tiên nhất”.

Trong bấy nhiêu người sinh ra ở đời mới có một nhân vật kiệt xuất? Định mệnh không trao cho mỗi con người đều có khả năng ảnh hưởng lớn lao đến cộng đồng. Nhưng mỗi con người đều là một cá nhân đáng trân trọng, với tất cả những niềm vui, những vết thương, những khả năng và giới hạn cần được thông hiểu. Con người lương tri Hugo đã nhắc nhở: “Hãy ban tặng và nhận về niềm vui, và cứ yêu nhiều đến bao nhiêu có thể được”. Và trả lời lại những người cho rằng tất cả đều kết thúc với linh hồn sau thế giới này, con người thiên tài Hugo khẳng định: “Với linh hồn anh, điều có thể, nhưng linh hồn tôi, tôi biết, nó bất tử”. 

Tìm hiểu Hugo sẽ hiểu được tín điều này của ông: “Sống là dấn thân”, “yêu là hành động”, vấn đề “không phải là chạm tới mục tiêu mà mãi mãi trên đường”. Và tìm hiểu ông, để có thể trò chuyện với ông về sự bất diệt của linh hồn. 

P.S: Vận dụng trí nhớ mà vẫn không nhớ ra bài đã được in báo chưa, nếu có đăng chắc cũng ngắn hơn nhiều :D

Thứ Bảy, 20 tháng 3, 2021

Không có gì quý hơn tình bạn

Đã lâu lắm mới nghe tiếng chim bồ chao gọi
Nhưng nếu cõi lòng anh chưa tự sửa soạn thành
Rừng
hỏi lấy chi làm chốn đậu của
Rưng rưng

Buổi trưa ăn cơm với bác T. V., đọc cho bác nghe mấy câu này, hỏi bác có còn nhớ những câu thơ này của bác không? Thi sĩ đã qua tuổi 90 gật gù: "Nghe thì biết là thơ của mình".

Lưu lại ở đây vài lời của bác trưa nay, phòng trí nhớ suy tàn: Thứ bảy tuần sau con lại đến nhé, cứ thứ bảy là tới đây ăn cơm trưa với bác. Hãy kéo dài 100 thứ bảy như thế. Bởi không có gì quý hơn tình bạn. Mọi thứ rồi sẽ mất đi, riêng tình bạn ở lại.

Một lời khác bác nói, thật chậm và thật rõ trong buối cơm chay của hai bác cháu: Mỗi - sinh  - vật - đều - cần - được - sống.

Và một thứ bảy trước, bác dặn: Con đến đừng mang quà gì cả. Tự LT đã là một món quà, những món quà khác sẽ thành vô nghĩa. Con biết đó, có những người mình coi như ruột rà mà không biết tại sao.

Cảm ơn thật nhiều thịnh tình của bác dành cho con bé vụng dại này. Cảm ơn một cõi thơ tràn đầy an lạc, tỉnh giác của bác - mỗi bài thơ như tiếng chuông nhắc người ta tìm về với Tự tánh, với Chân Tâm, mỗi bài thơ như những - bước - hành - hương đến Đạo giải thoát. 

Có cơ duyên gắn bó với bác mà con chưa viết được "cái gì ra hồn" về thơ T.V. Cho con giữ lại một lời hẹn vậy. 

20.3.2021

Bi kịch nào cho nhà văn?


10 giờ 15 phút sáng ngày 14-4 năm 1930. Tiếng súng nổ. Người ta nhìn thấy Vladimir Maiakovski- nhà thơ Xô Viết nổi tiếng nằm chết trong căn phòng tập thể ở đường Lubianka, vết máu trên áo sơ mi. Các báo đồng loạt đưa tin cáo phó, viết bài tưởng nhớ, kết luận sự kiện bi thảm ấy là một vụ tự sát. 

Nhưng gần ¾ thập kỷ đã trôi qua, câu hỏi về cái chết của Maiakovski vẫn còn đó. Có phải là Maiakovski tự sát hay không? Tại sao một người “khổng lồ” thế, tài năng thế, một nhà thơ “dự cảm được sự bay bổng của mình” lại tự nguyện chấm dứt cuộc sống? Các cuộc tranh luận nổ ra giữa các nhà điều tra. Các nhà nghiên cứu tiểu sử và sáng tác của nhà thơ vất vả với những dữ kiện không đầy đủ. ..Và những bạn đọc yêu mến nhà thơ Maiakovski đến nay vẫn chưa có được câu trả lời chính thức.

Năm 1998, tác giả Valentin Skoriatin, với khối tư liệu đồ sộ tìm được từ các hồ sơ tuyệt mật, sau hàng loạt các bài báo về Maiakovski luôn được bạn đọc đón đợi (đăng trên tạp chí Zhurnalist từ 1989-1994), đã cho ra đời quyển sách đầy tính tư liệu quý báu và hấp dẫn: Bí ẩn về cái chết của Vladimir Maiakovski.

Nhà xuất bản Trẻ với vai trò thử nghiệm dịch sách điều tra lịch sử của Nga và dịch giả Lê Khánh Trường với tác phẩm lựa chọn này đã cung cấp cho độc giả VN một kho thông tin quý giá xoay xung quanh quãng đời cuối cùng của Maiakovski. 

Quyển sách nêu ra giả thuyết mới về cái chết của V. Maiakovski- giả thuyết về sự bức tử đối với nhà thơ. Những bức ảnh tư liệu lưu trữ hiếm có, những chi tiết quan trọng, những dẫn chứng thuyết phục cùng những lý lẽ logic đã vén một góc bức màn bí mật cái chết của Maiakovski.

Buổi sáng định mệnh ngày 14-4 năm1930 ấy, Maiakovski đã tự sát hay bị bức tử? Hậu thế đã không nguôi được với niềm tiếc thương lẫn tò mò. Cũng như với bao nhiêu cách giã từ sự sống như thế của những nhà văn khác. Bi kịch đó do đâu? Do nhà văn không tìm được chính mình, không chấp nhận được những phi lý của chính mình hay của thời đại?

Rất nhiều người tin rằng đằng sau cái chết này là một lý do chính trị. Maiakovski, với những vở kịch châm biếm và thi ca chân chính của mình, đã “tấn công hệ thống mệnh lệnh hành chính đang nảy sinh ở nước Nga, tấn công bộ máy quan liêu đại diện cho hệ thống đó” và “chỉ muốn người đọc hãy trở về thực tại khắc nghiệt của thời đại”:

Chúng ta quay ngoặt bước chạy của lịch sử.
Hãy tiễn đưa cái cũ đi mãi mãi.
Người cộng sản và con người.
Không thể nào khát máu.


Nhà thơ đã không chịu câm nín như ông muốn, không cúi đầu như những nhà văn chiều thời đại mà đã “nói thật to”:

Lục lọi cái thời hóa đá hôm nay,
nghiền ngẫm bóng tối thời nay,
bộ tuyên truyền ra rả bên tôi,
tôi đấu dịu,
ngậm họng.

Kết cục của sự “đấu dịu” ấy là bị buộc phải chọn lựa cái chết vì đã sống thật? Tiếng súng đã vang lên nhắm ngay vào trái tim đòi khước từ cái bánh vẽ dân chủ và tìm kiếm sự tự do đích thực. 

Nếu cái chết của Maiakovski không phải đơn thuần là một cách đào thoát khỏi những tai họa riêng tư thì bi kịch của Maiakovski cũng chính là bi kịch của những văn nghệ sĩ không thể nói to sự thật, không hét to lên được cho ai nấy cùng nghe thấy toàn bộ sự thật về thời đại; yêu nước mà không thể chữa lành những ung nhọt nhìn thấy được của đất nước; không thể nịnh bợ chính trị khi không có niềm tin vào bộ máy cai trị. Và cuối cùng là sự bất lực phải chui vào vòng kim cô của chính trị choàng lên đời sống văn nghệ.

Nhưng cuối cùng, Maiakovski có bị bức tử hay không, điều đó đã thuộc về quá khứ. Điều quan trọng hiện tại là sự bất tử của tác phẩm mà người nghệ sĩ sáng tạo nên. Những tác phẩm tìm được sự bất tử khi nó không bắn vào trái tim trong sáng của người sáng tạo, không bắn vào cái đầu không chịu tuân thủ những quy định kìm nén khả năng sáng tạo chân chính.

Còn lại đây, những câu thơ được sản sinh từ “trái tim được giải phóng”:

Tôi muốn đất nước hiểu tôi
Còn không được hiểu-
thì sao?!
Trên đất nước thân yêu
tôi lại đi qua bên cạnh
như giọt mưa
rơi vát.
Còn chuyện khác nữa:
tôi biết sức mạnh từ ngữ,
tôi biết hồi chuông báo động của từ ngữ.
Chúng không phải
thứ ca ngợi sự giả dối.
Những từ ngữ
làm vỡ quan tài
Những từ ngữ
bò lổm ngổm
bằng cái chân gỗ của mình.


(Trích Trường ca Nói thật to)

Cái chết của Maiakovski qua cuốn sách này bỗng gợi lại những câu thơ tưởng nhớ Hemingway của nhà thơ Xô Viết Evgheni Evtushenko:


Tự tử, đối với đời nghệ sĩ
Là giữ mình không trong sạch vẹn toàn,
Đã chịu bán tài năng
Thì đắt, rẻ mặc lòng
Đều từ đó hóa thành vô sỉ
Tự tử, đối với đời nghệ sĩ
Đâu phải viên đạn chì, hay một nút dây thừng,
Bao kẻ sống phây phây, mặt mũi đỏ bừng
Nhai thịt gà, uống rượu vang ừng ực,
Nhưng khi ngồi vào bàn viết,
Thì té ra, họ tự tử lâu rồi!

Anh là người trung thực nhất đời
Chỉ bắn nỗi đau kia

Đâu bắn tấm lòng mình?

(Bằng Việt chuyển ngữ).

Là nhà văn mà không nói được tiếng nói của mình, tiếng nói trung thực của Con Người thì mới là bi kịch thật sự của “cái chết” . Sống và viết đúng với lương tâm thời đại, ngẫm ra cũng khó vậy sao? Còn Maiakovski, như Hemingway, ông đã không “bắn tấm lòng mình”. Ông và sự trung thực của ông sẽ vẫn còn được nhớ mãi trên nước Nga thân yêu. Không có ngụy thuyết nào phủ nhận được điều đó.

P.S: Một bài viết cũ thời sinh viên, lưu lại ở đây cho nhãn Sách của bạn nâu.

Thứ Sáu, 19 tháng 3, 2021

Tô Thùy Yên (1938-2019) - Nhà thơ Việt Nam


Nhà thơ Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, từ trần tại Houston (Hoa Kỳ) lúc 21g15 ngày 21-5-2019, thọ 81 tuổi. Vào tuổi ấy, và sau bao nhiêu gian truân, ông ra đi vẫn gây ra nhiều tiếc nuối trong giới độc giả trong và ngoài nước. Cái tang chung cho giới văn học đặt ra một câu hỏi khẩn thiết: tác phẩm Tô Thùy Yên đứng ở đâu trong dòng văn học Việt Nam hôm nay?

Tựa đề bài này khẳng định: Tô Thùy Yên là nhà thơ Việt Nam. Không phải là nhà thơ hải ngoại hay của Miền Nam cũ. Lý do đơn giản: ông là người Việt Nam, viết văn, làm thơ bằng tiếng Việt Nam. Huống hồ đời ông gắn bó với lịch sử đất nước trong mỗi chặng đường, thơ ông đầy ắp tình tự dân tộc, thắm thiết phong cảnh quê hương, ngôn ngữ Việt Nam phong phú, đa dạng, vừa uyên bác vừa sâu đậm lời ăn tiếng nói dân gian, tục ngữ, ca dao. Thơ ông đặc sắc, từ nội dung nhân đạo, tư tưởng cao sâu đến lời thơ tài hoa, hào sảng, giàu hình ảnh lạ trong tiết điệu thân quen. Nghệ thuật vi diệu của ông làm vinh dự cho tiếng Việt và văn hóa Việt. Tô Thùy Yên là nhà thơ Việt Nam bên cạnh Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tản Đà.

Tôi đã ngần ngại nhiều ngày trước khi đưa ra nhận định như trên, e rằng mình chủ quan, quá lời, cho đến khi đọc trên mạng ngày 28-5, bài của nhà thơ Thanh Thảo, không được đăng trên các báo giấy trong nước, có đoạn: “Tô Thùy Yên là một nhà thơ lớn (…) khi một nhà thơ Việt được công nhận bởi tài năng và nhân cách của mình, thì dù họ sống ở xa tổ quốc, thơ họ vẫn thuộc về đất nước, về dân tộc Việt Nam. Đó là thơ của một nhà thơ Việt thuần chất, trong đau khổ vãn giữ được phẩm chất người của mình, vẫn yêu thương mà không oán hận, dù số phận mình hết sức trớ trêu”. 

Thanh Thảo, sau 20 năm đọc thơ Tô Thùy Yên đã nắm bắt được hai yếu tố chính: chất dân tộc và chất người, làm nên nhân cách nhà thơ. Tôi đặt tên cho bài viết: Tô Thùy Yên nhà thơ Việt Nam, tưởng là đã chắc nịch, trong khi Thanh Thảo dùng chữ “nhà thơ Việt” ngắn gọn hơn, nhưng sắc bén, sâu xa hơn cái quốc hiệu tôi đưa ra. Thanh Thảo, cùng với Tô Thùy Yên là nhà thơ, họ sử dụng ngôn ngữ theo trực cảm, từ đáy vực tâm linh của lời nói. 

Lại nhớ đến Trần Đĩnh, tác giả Đèn Cù khi anh nhận xét “Tô Thùy Yên là nhà địa chất học dầu tiên nhặt lên những quặng chữ chưa ai từng phát hiện để dặt chúng bên nhau mà phát xạ” (Văn Việt 28-5-2019). Tôi thấy an tâm vì mình vinh danh thơ Tô Thùy Yên, nhất là vào giờ vĩnh biệt nhà thơ, không phải là chủ quan quá đáng.

Về tư tưởng và nghệ thuật Tô Thùy Yên, tôi đã từng sơ lược trình bày trong bài Ngựa phi đường xa, đăng trên báo Khởi Hành, California, số 20, tháng 12-1998. Từ bấy đến nay, non hai mươi năm, tình hình văn nghệ, báo chí đã không khá khẩm hơn, thậm chí còn u ám hơn. Văn thơ, đáng lẽ phải làm cho con người gần nhau, lại gây thêm tị hiềm, chia rẽ, thậm chí thù hận. Riêng Tô Thùy Yên thì có địa vị riêng, thơ ông đứng bên ngoài cõi ta bà đó và gây được sự đồng thuận giữa độc giả trong và ngoài nước, nhờ nội dung nhân ái và nghệ thuật vi diệu; và cũng nhờ kỹ thuật thông tin mạng hiện đại. Nhiều người truy cập được toàn bộ thơ văn Tô Thùy Yên, trong và ngoài nước, với ít nhiều thiện tâm, thiện chí, dù chính kiến, quá khứ có khác nhau, họ cũng thấy gần gũi qua những câu thơ:

Ta về như lá rơi về cội,
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây, xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này


Bài Ta Về làm 1985 khi tác giả vừa ra khỏi trại tù cải tạo, tuy có nhắc lại những lao khổ qua “mười năm chết dấp”; nhưng không thù hận. Ông xem những điêu linh, chiến tranh, lao lý, đổi đời như là hiện tượng tự nhiên, một cuộc biển dâu như người xưa vẫn quan niệm, mà Ôn Như Hầu hay Nguyễn Du đã từng nhắc lại đâu đó. Để bôi xóa quá khứ, để nuôi dưỡng sự sống, tác giả rót chén rượu giải oan, giống ai xưa đã lập đàn giải oan trên sông Tiền Đường, giải trừ oan nghiệt cho chúng sinh, cho một bếp lửa nhân quần ầm tối nay. Bếp lửa đầu tiên của loài người là của bộ lạc, rồi đến bết lửa gia đình, không có kích cỡ nhân quần như nơi Tô Thùy Yên. Vì tâm hồn ông như vậy. Tầm nhìn (sinh thời ông ưa dùng chữ vision) như vậy thấy được thế giới vui từ mỗi lẻ loi.

Thơ Tô Thùy Yên là chuyện Con Người, chuyên một thân phận lẻ loi trong một nhân quần hạnh phúc. Chất thơ tinh luyện trong trước tác Tô Thùy Yên là nhân phẩm con người, từ đó ông thẩm quyền dõng dạc: “thơ còn con người còn” trong một bài nói tại Seattle ngày 26-7-1997; ông giải thích thêm, phân biệt “văn nghệ giải trí, giải muộn khác với văn nghệ ở cấp độ cao nhất là văn nghệ giải oan, giải thoát”. Dù sao thơ cũng cần đến những ẩn dụ hào hoa, chứ kỳ thật để giải oan cho cuộc biển dâu này, Tô quân không cần rưới chút rượu hồng nào cả. Thơ ông là đủ để hóa giải.

Tấm lòng cao quý như vậy, trong một tác phẩm lớn lao như vậy, mà cho đến nay độc giả trong nước không mấy người biết đến vì nhà cầm quyền không cho phép in ấn, thậm chí không cho chép nhắc tới. Dù chỉ đăng tin buồn. Người cộng sản không ưa Tô Thùy Yên thì chuyện dễ hiểu, nhưng khắc nghiệt đến mực ấy thì quả là bất thường, gây thiệt thòi cho quần chúng độc giả; nhất là giới trẻ không tiếp cận được với một nguồn thơ giàu có của đất nước họ. Mà giới chống cộng trong hay ngoài nước, cũng chưa chắc gì đã ưa lối thơ này, mà nhiều người chê là “thiếu lửa”, ví dụ bài Ta Về nổi tiếng. Họ đòi hỏi ở một nạn nhân cộng sản tính chiến đấu cao hơn, và ngờ vực tác giả còn giữ nhiều liên hệ với giới văn nghệ quốc nội và đã đôi ba lần về thăm đất nước. Nghe nói tập thơ cuối cùng mới in gần đây tại Mỹ không bán, tác giả xuất bản để tặng bạn bè.

Cuối cùng, thơ Tô Thùy Yên không dễ đọc. Độc giả trích dẫn nhiều, nhưng chỉ trích những câu, những đoạn vừa ý. Nói rằng tác giả dùng nhiều lời ăn tiếng nói dân gian, nhiều tục ngữ ca dao, nhưng không phải là người đọc nào cũng nắm bắt. Ngay hai câu đầu của Ta Về được truyền tụng nhiều nhất:

Ta về – một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai.

Muốn hiểu cặn kẽ thì phải biết câu ca dao, có lẽ xuất phát từ quan họ:

Người về ta chẳng cho về
Ta níu áo lại ta đề câu thơ…


Thậm chí, cuối tập Thắp Tạ (2004) tác gỉa còn thêm phần phụ chú để giải thích …thơ mình.
Bài thơ làm 1999 có câu thật hay:

Em về giồng dưới qua bưng gió
Dạ bời bời nỗi sậy niềm mây

Câu thơ tự nó đã hay, không cần giải thích. Nhưng tác giả đã tiết lộ xuất xứ từ ca dao Nam bộ:

Em về giồng Dứa qua truông
Gió day bông sậy, bỏ buồn cho anh.

Tô Thùy Yên là nhà thơ uyên bác. Ông thông thạo thơ cổ điển Trung Quốc, có lần, trong trại học tập đã chép tặng bạn một bài thơ dài của Đỗ Phủ bằng chữ Hán. Ông đọc hầu hết thi ca Pháp hiện đại và đặc biệt thích Saint John Perse, một tác gia khó đọc. Ngoài ra ông tinh tường triết học Tây phương, Do đó, câu thơ ông trầm tích nhiều ý tưởng hay ẩn dụ phức tạp, dễ khiến người đọc lạc lõng.

Tô Thùy Yên lại là người cầu toàn, trau chuốt câu thơ “Tôi giựt giành đổ máu với tôi/từng chữ một”, do đó câu thơ có lúc hồn nhiên, có lúc cầu kỳ. Thơ cần cảm hứng, nhưng Tô Thùy Yên khổ luyện thi hứng của mình, thành những bài thơ dài; (nhờ ngẫu hứng mà làm được vài ba câu thơ hay thì không khó, nhiều người làm được). Thơ, cũng như nhiều bộ môn nghệ thuật khác, đòi hỏi những công trình dài hơi, khả năng lao động trí tuệ bền bỉ, rung cảm sâu lắng. Tô Thùy Yên muốn làm thi sĩ thực sự, chứ không chỉ là một tao nhân mặc khách, “ngứa cổ hát chơi”. Và cuối cùng, ông đã là một nhà thơ đích thực, ở tầm cỡ thế giới.

Ngày nay, thơ ông phổ biến nhiều nhờ qua mạng Internet, nhưng đọc thơ trên mạng thì có cái gì đó phù du.

Tóm lại có những lý do khách quan, khiến tác phẩm Tô Thùy Yên khó đến với quảng đại quần chúng. Mà nay còn có chuyện cấm đoán nữa, thì càng thêm khó khăn, tai hại.

* * *

Giá trị thơ Tô Thùy Yên, về mặt tư tưởng, tình cảm, nghệ thuật, tôi đã trình bày nhiều ở phần đầu, và viện dẫn chứng từ của nhà thơ Thanh Thảo, nhà văn Trần Đĩnh, những tác gia nghiêm túc mà tên tuổi đủ bảo đảm cho lời nói, cất lên từ trong nước. Quý ở chỗ đó.

Phần sau là đặt tác phẩm vào thời sự, với những nghịch cảnh đáng tiếc. Phong trào Thơ Mới 1932-1945 nở rộ nhanh chóng và ảnh hưởng lâu dài, là nhờ sách báo và nhà trường thời đó. Ngày nay xã hội Việt Nam không còn được hai ưu thế đó. Ngay việc bình luận, nghiên cứu cũng bị phân tán, ngăn chặn, xuyên tạc.

Nhân một đám tang, chúng tôi muốn nêu lên vấn nạn chung, cho tác phẩm Tô Thùy Yên, mà cũng cho trước tác nhiều tác gia khác.

Cho hay khi con người sống có ích thì chết cũng có ích.

Và chúng tôi tin vào lời Tô Thùy Yên, ngày ông còn cả tiếng cùng nhân loại:
Thơ còn con người còn.

ĐẶNG TIẾN

P.S: Bài tưởng niệm thi sĩ Tô Thùy Yên nhà phê bình Đặng Tiến viết năm 2019, khi Tô Thùy Yên qua đời, nhưng nay mình mới đọc được, lưu lại ở đây.
"Kết" ý này của thi sĩ Tô Thuỳ Yên mà nhà phê bình Đặng Tiến dẫn lại:"văn nghệ ở cấp độ cao nhất là văn nghệ giải oan, giải thoát”

Bài về thơ Tô Thùy Yên - "kho báu của thơ Việt" của nhà thơ Ý Nhi: https://www.dutule.com/a9247/y-nhi-to-thuy-yen-thuc-cho-xong-bai-tho:

"Các nhà phê bình văn học danh tiếng như Đặng Tiến, Thụy Khuê, Nguyễn Hưng Quốc, Bùi Vĩnh Phúc... đều đã thử bút với thơ Tô Thùy Yên. Và, dường như chưa ai trong số họ cho rằng họ đã nói lời sau cùng về ông. Chắc chắn, những nhà phê bình tiếp sau họ, những độc giả của tương lai, sẽ đọc Tô Thùy Yên với một định chuẩn thẩm mỹ mới, bởi Thơ Tô Thùy Yên là kho báu của thơ Việt, bởi Tô Thùy Yên là “một trong những tiếng thơ lớn, của 20 năm văn chương miền Nam” (Du Tử Lê).
Chính xác hơn, Tô Thùy Yên là nhà thơ lớn của nền thơ Việt Nam hiện đại".

Đợi những rộn ràng



Chúng tôi đến thăm nhà văn Võ Hồng vào một buổi chiều tắt nắng, biển Nha Trang xanh một màu xanh da diết. Căn nhà nhỏ nép mình im vắng ở góc phố đường Hồng Bàng. Không có ổ khóa nào ở cổng ngoài, chỉ cần đẩy nhẹ then cửa là đã chạm bước vào một không gian đầy kỷ niệm.

Trên căn gác nhỏ, Võ Hồng đang ngồi yên ở một góc giường, một mình một bóng như mấy chục năm dài vẫn vậy. Ông mặc một chiếc áo sơ mi dài tay, cổ áo gài cao, bên ngoài khoác một chiếc áo len mỏng và đầu đội mũ len che kín hai tai. Vì sức khỏe yếu, cửa phòng ông phải khép lại để tránh gió chiều, khép lại cả những biểu hiện sự sống sinh động ở bên ngoài. Căn phòng nhỏ còn lại ông, chiếc giường, kệ sách và… nỗi cô đơn có thể nhìn thấy rõ. Bụi phủ lớp mỏng lên những bức ảnh, những đồ vật trong phòng, quyện vào những trang sách cũ làm căn phòng bỗng mang một chút hương xưa êm đềm của dĩ vãng.

Câu chuyện với Võ Hồng thấp thoáng một nỗi niềm đeo đẳng: "Cô không tưởng tượng được về một đời sống vắng lặng đâu. Không thể nào thốt lên những câu như "Lấy dùm tôi cái ly", "lấy dùm tôi cây viết", không có ai bên cạnh cả, không có ai để mình có thể nói những câu như vậy".

Chúng tôi nghe lòng rưng rưng khi ông nói về sự lẻ loi như định mệnh ấy của mình.


Trong nỗi cô độc mỗi ngày, tưởng như người bạn duy nhất có mặt bên ông vẫn chỉ là tấm ảnh của Diệu Báu - người vợ yêu đã sớm lìa xa ông và ba người con còn ở tuổi ấu thơ. Có lẽ bà là hoài niệm long lanh nhất, dấu yêu nhất ông không thể nào không nhắc đến trong những cuộc trò chuyện với bao người ghé đến căn gác nhỏ phố Hồng Bàng.

Nhưng vượt qua những "đau yếu giữa hành trình", Võ Hồng vẫn thở cùng thơ, văn mỗi ngày. Những vần thơ lãng mạn, nhu mì lẫn khỏe khoắn, hóm hỉnh: Chiều ngồi tựa cửa / Nhìn áng mây xa/ Về đâu lát nữa/ Hỡi mây không nhà? Võ Hồng ngâm nga bài thơ mới làm. Và trên một chiếc bảng đen ở một góc nhà "vương vãi" những câu thơ viết bằng phấn trắng: “Hối lộ, lộ rồi không kịp hối. Tham ô, ô gãy hết đường tham”.

Một ngòi bút thẳng cả đời văn. Giữ ngòi bút không bao giờ biết “nịnh”, không bao giờ luồn cúi. Và điều Võ Hồng tâm niệm cả đời vẫn là thái độ sống "luôn luôn nghĩ tốt, làm tốt và không bao giờ nói xấu người". Một tâm niệm đầy nhân hậu. Không chỉ nói, Võ Hồng đã làm được rất nhiều điều theo tâm niệm ấy. Ông từng "vét" cả triệu bạc có được để giúp người, từng chăm lo từng cái bánh, miếng cơm cho những người đói kém mà ông gặp...

Giờ đây, nghĩ đến một ước mơ cho riêng mình, ông chỉ mong ước các tác phẩm của mình được chọn in lại. Võ Hồng đặc biệt tha thiết muốn quyển sách mỏng gồm "Một bông hồng cho cha", "Nghĩ về mẹ" và "Nửa chữ cũng thầy" được in thường xuyên để bạn đọc nhỏ tuổi có cơ hội được đọc, tưới tẩm những hạt giống yêu thương trong tâm hồn các em. Tình yêu thương gia đình trong tác phẩm Võ Hồng là một trong những "con thuyền " "tải đạo" vững chãi đủ để truyền trao và nuôi dưỡng nhân cách người đọc.

Khi nghe chúng tôi nhắc đến những câu nói thâm thúy và hóm hỉnh trong quyển Trầm Tư, Võ Hồng giở ngay trang cuối và cất giọng đọc: "Này ông Socrate! Ông bị vợ chê ghét trong khi quần chúng ái mộ ông. Đừng ngạc nhiên, những người tiếp xúc với ông, được nghe ông thuyết giảng về cái Hay cái đẹp của triết lý…mỗi người được nghe một lần, trong khi vợ ông ở gần thì cứ phải nghe lặp lại hoài. Chỉ một việc đó cũng đủ để bà nổi xung đổ ghét". Câu "trầm tư" này phải nghe qua giọng đọc nhấn nhá đầy khoái cảm của tác giả mới thấm hết ý vị của nó.

Võ Hồng tỏ ý thích câu này vì nói lên được sự tinh nghịch của ông. Sự tinh nghịch đã khiến ông trang trí mảnh vườn nhỏ nơi sân gác bằng hàng loạt các bloc lịch màu đỏ. Tinh nghịch cũng là cách xoa dịu nỗi buồn. Bởi như ông bảo, "nếu có tình yêu thì đâu cần tinh nghịch nữa". Nhưng còn tình yêu thầm lặng của bao bạn đọc? Võ Hồng nhè nhẹ lắc đầu: "Không, tình yêu thì phải ở ngay bên cạnh, phải rộn ràng".

Một người cũng thấu cảm nỗi cô đơn khác là Trịnh Công Sơn có lẽ sẽ "đồng cảm" với Võ Hồng hơn hết khi Trịnh Công Sơn viết: "Em líu lo bên đời dạy tôi biết xa gần"… Từ lâu rồi, "xa gần" với Võ Hồng là tiếng líu lo của những chú sẻ nâu ghé vào vườn nhà mỗi sớm, ăn những hạt cơm ông để dành sẵn. Vàng anh vẫn nở rực một góc vườn. Hương hoa mận bên rào hàng xóm vẫn tràn vào gác nhỏ. Bấy nhiêu thôi đủ để nỗi cô đơn lướt qua nỗi cô đơn và tình yêu cuộc sống nơi ông không bao giờ cạn, để ông vẫn yêu thật thà từng "nhánh rong phiêu bạt" nhìn thấy trong đời …

Chúng tôi đã ngồi với nhau trong tình ông - cháu, tình thầy trò, tình cảm giữa nhà văn và độc giả trong một buổi chiều đằm thắm như thế, đằm thắm đến nỗi không nỡ trông thấy một cánh hoa rơi, một nét ưu tư trên gương mặt bất kỳ ai…Chia tay, như chia tay một sự rộn ràng bất ngờ ập đến, Võ Hồng bỗng thốt lên hai tiếng "buồn quá" làm chúng tôi lặng lòng….

Hình ảnh cuối cùng về cái chắp tay xá chào của Võ Hồng theo tôi suốt một chuyến tàu về lại Sài Gòn. Hình ảnh của một con người khiêm cung và tự trọng hết mực. Hình ảnh của một nhân cách khó phai mờ trong văn giới VN.

--------

P.S: Trích bài viết đã in trên tạp chí Văn Hoá Phật giáo năm 2006.
Nhà văn Võ Hồng được Hội nhà văn VN truy tặng giải Cống hiến năm 2017, nhưng cho đến nay, ước mơ nhỏ của ông về những quyển sách mỏng kia được in lại vẫn chưa thành. Tụi mình/ Quỹ Nguyễn Hiến Lê rất muốn làm điều này cũng như in lại cuốn Chúng tôi có mặt của Võ Hồng, nhưng hiện vẫn chưa liên lạc được với người nhà của ông. Tạ ơn nếu được bạn hữu kết nối.

Thứ Ba, 16 tháng 3, 2021

Sao không hạnh phúc với cuộc đời đi...



Cho đến giờ, chưa có bộ phim Việt Nam nào thôi thúc mình phải đến rạp lần hai như Song Lang. Mình biết ít nhất 10 khán giả xem phim này hai lần. Đây có lẽ là một trong những phim Việt Nam hiếm hoi khiến nhiều người - nhất là khán giả thế hệ 7x, 8x - muốn xem lại nhất.

1.
Mình đã đọc hơn 20 bài điểm phim, trong đó có nhiều bài rất hay, khiến mình nghĩ viết gì thêm nữa cũng thừa thãi. Nhưng nếu không nhắc đến Song Lang với bạn bè, với những ai còn chưa ra rạp xem Song Lang, mình áy náy như mắc nợ một tác phẩm nghệ thuật đáng được trân trọng - về những trải nghiệm đẹp và giàu cảm xúc mà bộ phim mang lại cho khán giả, về niềm tin mà Song Lang nhen lên về những tác phẩm “made in VN” thật sự tinh tế, cứu chuộc cho những thành kiến mà nhiều khán giả đã dành cho điện ảnh Việt.

2.
Mình sẽ còn nhớ lâu Dũng thiên lôi và Linh Phụng. Yêu sự hóa thân vừa vặn của Liên Bỉnh Phát, Isaac. Yêu cái đẹp của sự cô độc và sự chữa lành. Yêu cái tình tri ngộ giữa đôi bạn ấy. Một cách rất tự nhiên, song hành cùng cuộc đời và cuộc gặp giữa hai con người, bộ phim gói ghém nhiều ẩn ngữ đẹp, về nguồn sáng của nghệ thuật nói chung và cải lương nói riêng, về những dấu ấn tuổi thơ cấy rễ thế nào vào hồn người, về sợi dây liên đới giữa thiên lương và nghệ thuật, về Phật tính vẫn có sẵn trong mỗi con người - dù đang lạc lối,…

3.
Lâu lắm rồi mới có một bộ phim mà nhiều khung hình làm mình tương tư đến vậy. Nhớ cái bờ tường Linh Phụng tựa nỗi xao xuyến vào, cái cầu thang âm u mỗi ngày một sớm mai bỗng lung linh nắng sớm. Nhớ cái khung cửa nơi chàng giang hồ hay đốt thuốc trầm tư một ngày được lấp đầy khoảng trống. Cái khung cửa đẹp của riêng 2 tâm hồn cô đơn. (Mình đọc đâu đó nói bộ phim mất 27 set quay cho cảnh ở khung cửa này. Sự kỹ lưỡng đó thật là đáng giá).

Và nhớ Sài Gòn về đêm những năm 80, xao động và tĩnh lặng (mình kịp biết qua khi còn là một đứa trẻ quê lên thăm phố). Nhớ những khung hình đưa ta du hành về thế giới tuổi thơ với những trò chơi mộc mạc mà dấu yêu quá đỗi…Nhớ cái góc máy, màu phim như muốn dồn ta vào cùng tâm trạng của Dũng thiên lôi khi chàng ta khóc nấc. Nhớ dáng nằm sấp bình an. Nhớ ánh mắt vừa chợt trong veo đã phải khép lại. Nhớ cái cơn mưa đến rồi đi, đột ngột, bất ngờ, như sự đến - đi của một phận người.

4.
Cuộc đời khốc liệt đan trong sự giản dị, bụi bặm bạo tàn đan trong thơ mộng thuần khiết, lý tính đan trong cảm tính, ngổn ngang hôm nay đan trong vô định ngày mai, với những nợ nần khó quên, những tình cờ nhớ mãi…

Có nhau và mất nhau, có thể là ngày hôm nay và ngay ngày mai đó thôi, theo đúng nghĩa đen. Ta chỉ có thể nhớ về thời gian, nơi chốn lần đầu gặp nhau, nào có thể nói với nhau đâu là lần cuối? Mà nhớ quên gì, thời gian (có khi của một cơn mưa thôi) có thể xóa nhòa tất cả…Dài mà ngắn, và vô thường thế đó.

Vậy thì, sao không hạnh phúc với cuộc đời đi, và yêu thương hơn, kiên nhẫn hơn với con người…

--------------

P.S 1.: Một nhà sách online cho biết nhiều bạn đặt mua quyển Con voi xa đàn sau khi xem phim. Còn mình, vô tình Song lang gợi nhớ đến Nhà khổ hạnh và gã lang thang (Đôi bạn chân tình) của Hermann Hesse. Trong đó, có những câu thế này:

"Không có mẹ người ta không sống được, không có mẹ người ta không chết được".

"Nghệ thuật thắng được kiếp người phù du; tôi nhận thấy rằng trò hề đời sống múa may như ma quỷ còn để lại cái gì đó tồn tại, đó là nghệ thuật. Rồi cũng có ngày nghệ thuật chết đi, tan biến, đảo lộn tan tành. Nhưng dẫu sao nghệ thuật vẫn lâu bền hơn đời sống con người, nó tạo ra ở trên khoảnh khắc trôi qua biền biệt một thế giới bình thản những hình ảnh và những sự kiện thiêng liêng. Đối với tôi, làm nghệ thuật có cái gì vỗ về an ủi gần như đem lại tính chất vĩnh cửu cho sự vật phù du".

Bước chân người lính


Anh nghe nghìn giọt mồ hôi chạy trên lưng
trên mắt trên môi
trên cả cuộc đời
nhỏ xuống rừng xanh
cho em Đông phương ngồi mộng
cho chiều Việt Nam tấp nập sắc màu
cho phương trời mở rộng
Quê hương
gập ghềnh đất mẹ đau thương
bước chân anh qua trùng trùng điệp điệp lá cây rừng
xuyên thung lũng qua ghềnh qua suối
Ôi thương quá quê hương buồn tủi|
mắt ngập ngừng mẹ khóc buổi ra đi
rừng núi Trà Mi
hai trăm bốn mươi giờ nghe lòng rưng rức.
Anh yêu em như yêu câu hò đất Bắc
yêu dòng Hương bởi tóc em buồn
áo trắng đan mau trên bãi sân trường
Anh thương quá quê hương mù khói súng
ôi xơ xác xóm làng Định Quán
nghèo Túc Trưng thơ trẻ cũng hãi hùng
mắt ngây ngô cô gái thẹn thùng
nhìn đoàn lính đi về qua Phước Lý
những em bé xinh xinh chiều Cát Lái
mời bánh ta, vui vẻ chuyện quân dân
và Tân Uyên rừng heo hút gió ngàn
đêm thao thức nhìn sao trời hoang vắng
anh đã băng dòng La Ngà trong nắng
nghe hồn rưng rưng thương đất thương người.
Em ơi!
mồ hôi anh đổ xuống
cho ruộng vườn cho ước mộng
cho mai sau trẻ con nhìn nhau thắm thiết
cho tình đầu không còn cách biệt
cho người người đi đến gần nhau
cho Việt Nam sông núi một màu
thương yêu ngập cả bầu trời bát ngát
Vì yêu em yêu đất yêu người nên hồn anh man mác
…quê hương!
mồ hôi anh đổ xuống ruộng vườn
ươm hy vọng thanh bình lên xứ sở

Nam Chương

(Thơ papa viết năm 1972, mình chép lại một ít vì papa không còn nhớ trọn bài)